Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào
(1) Về hóa đơn
-
Tại khoản 15 Điều 23 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP bổ
sung quy định: “các hóa đơn, chứng từ được lập từ các hành vi bị nghiêm
cấm tại Điều 13 Luật Thuế giá trị gia
tăng thì không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng.
(2) Về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt
-
Tại khoản 1 Điều 26 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP sửa đổi, quy định
rõ:
“Cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối
với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 05
triệu đồng trở lên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trong đó:
1.
Chứng
từ thanh toán không dùng tiền mặt là chứng từ chứng minh việc thanh toán không dùng tiền
mặt theo quy định của Nghị định số 52/2024/NĐ-CP
ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt,
trừ các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán.”
-
Tại điểm i khoản 2 Điều 26 Nghị
định số 181/2025/NĐ-CP bổ sung quy định: “i)
Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được ủy quyền cho cá nhân là người
lao động của cơ sở kinh doanh thanh toán không dùng tiền mặt theo quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của cơ sở kinh
doanh, sau đó cơ sở kinh doanh thanh toán lại cho người lao động bằng hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu
vào.”
-
Tại điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị
định số 181/2025/NĐ-CP sửa đổi như sau: “g)
Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ
mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa
đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền
mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả
chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán
không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp
đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường
hợp đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh
doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh
phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ
đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ
tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo
hợp đồng, phụ lục hợp đồng.”
(3) Điều kiện khấu trừ đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu
- Tại Điều 27 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP sửa đổi quy định rõ: “tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu (trừ trường hợp không cần phải có tờ khai hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan)” và bổ sung một số chứng từ “phiếu đóng gói, vận đơn, chứng từ bảo hiểm hàng hóa (nếu có)” vào điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.
-
Tại khoản 3 Điều 27 Nghị định số
181/2025/NĐ-CP bổ sung quy định: “Trường
hợp bên xuất khẩu bán các khoản phải thu của bên nhập khẩu cho bên thứ ba (bên
mua các khoản phải thu) ở nước ngoài thì phải có chứng từ thanh toán không dùng
tiền mặt từ bên thứ ba (bên mua các khoản phải thu), việc thanh toán này phải
được quy định trong hợp đồng xuất khẩu và hợp đồng mua bán các khoản phải thu
với bên thứ ba ở nước ngoài; bên xuất khẩu phải có văn bản cam kết, giải trình
về lý do số tiền thanh toán khác số tiền phải thanh toán theo hợp đồng xuất
khẩu phù hợp với hợp đồng mua bán các khoản phải thu.”
Comments
Post a Comment